Hoạt động sở hữu trí tuệ
Tính đến thời điểm hiện nay cơ sở Luật sở hữu trí tuệ của đã trở nên rất hoàn thiện. Luật sở hữu trí tuệ nói chung bao gồm là một hệ thống các luật về quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả, nhãn hiệu, thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng, thu âm phát sóng, thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng… Tất cả các điều luật của luật sở hữu trí tuệ được thống nhất áp dụng cùng với các Công ước, Thỏa ước, Nghị định và Hiệp định được phê chuẩn bởi đại diện của nhiều Quốc gia. Việt nam là một trong 170 thành viên của hầu hết các Công ước, Thỏa ước, Nghị định và Hiệp định trên. Vì vậy, về cơ bản Luật sở hữu trí tuệ Việt nam đều dựa trên trên các cơ sở Luật sở hũu trí tuệ Quốc tế và có sự điều chỉnh để phù hợp với điều kiện áp dụng tại Việt nam. Các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ đều bình đẳng trước hệ thống Luật sở hữu trí tuệ dưới sự bảo hộ của luật pháp Quốc gia và Quốc tế.
Luật sở hữu trí tuệ Việt nam
Luật này quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó.
Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 3. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ[2]
1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
3. Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
4. Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
5. Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.
6. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.
7. Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.
8. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.
9. Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã công bố là tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã được phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan để phổ biến đến công chúng với một số lượng bản sao hợp lý.
10. Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử.
11. Phát sóng là việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đến công chúng bằng phương tiện vô tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn.
12. Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
13. Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.
14. Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử. Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử.
15. Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn.
16. Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
17. Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.
18. Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.
19. Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.
20. Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
21. Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.
22. Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.
23. Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.
24. Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được.
25. Văn bằng bảo hộ là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống cây trồng.
26. Vật liệu nhân giống là cây hoặc bộ phận của cây có khả năng phát triển thành một cây mới dùng để nhân giống hoặc để gieo trồng.
27. Vật liệu thu hoạch là cây hoặc bộ phận của cây thu được từ việc gieo trồng vật liệu nhân giống.
1. Trong trường hợp có những vấn đề dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ không được quy định trong Luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.
2. Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về sở hữu trí tuệ của Luật này với quy định của luật khác thì áp dụng quy định của Luật này.
3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
2. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả.
3. Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký;
b) Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
c) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;
d) Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
4. Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này.
Điều 7. Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ[4]
1. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của Luật này.
2. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Điều 8. Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ[5]
1. Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.
2. Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
3. Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
4. Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
5. Huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
Điều 9. Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tổ chức, cá nhân có quyền áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và có trách nhiệm tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 10. Nội dung quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
1. Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ.
3. Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về sở hữu trí tuệ.
4. Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên quan đến Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, Bằng bảo hộ giống cây trồng.
5. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.
6. Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu trí tuệ.
7. Tổ chức, quản lý hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.
8. Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về sở hữu trí tuệ.
9. Hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ.
Điều 11. Trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[6], Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[7] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[8], Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
4. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền.
5. Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[9], Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các cấp.
Điều 12. Phí, lệ phí về sở hữu trí tuệ
Tổ chức, cá nhân phải nộp phí, lệ phí khi tiến hành các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
(Tài liệu được trích dẫn từ nguồn : https://thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Van-ban-hop-nhat-19-VBHN-VPQH-nam-2013-hop-nhat-Luat-so-huu-tri-tue-220039.aspx)
Nội dung bảo hộ sở hũu công nghiệp trong Luật sở hữu trí tuệ bắt đầu được thống nhất áp dụng trên bình diện Quốc tế thông qua Công ước Paris vào ngày 20/03/1883, được sửa đổi được sửa đổi tại Brussels ngày 14/12/1900, tại Washington ngày 2/6/1911, tại LaHay ngày 6/11/1925, tại London ngày 2/6/1934, tại Lisbon ngày 31/10/1958 và tại Stockholm ngày 14/7/1967, và được tổng sửa đổi ngày 28/9/1979, tuy nhiên người ta vẫn chung gọi là Công ước Paris. Điểm đáng lưu ý là trong thời gian đầu người ta coi việc nộp đơn đăng ký bảo hộ sở hũu công nghiệp có giá trị độc lập giữa các Quốc gia khác nhau. Có lẽ điểm này đã được cải thiện lầu đầu thông qua Hiệp ước về hợp tác sáng chế- Patent Cooperation Treaty (PCT) được ký vào ngày 19/06/1970 tại Washington Mỹ đã khắc phục một số hạn chế của công ước Paris. Trước đây các tác giả phải trực tiếp nộp đơn đến các quốc gia cần đăag ký sáng chế, nay chỉ cần nộp trực tiếp ở quốc gia mình còn Cục SHTT sẽ thực hiện các bước tiếp theo. Và mới nhất là Thỏa ước Strasbourg năm 2018, nội dung của thỏa ước Strasbourg chưa được phổ biến một cách rộng rãi nhưng có một sự việc thay đổi mà bất cứ nhà sáng chế nào khi nộp đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt nam cũng phải tuân thủ. Trước ngày 01/06/2018 các đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp được phân loại theo chỉ số của Hiệp ước PCT, sau ngày 01/06/2018 các chỉ số sẽ áp dụng theo bảng phân loại của thỏa ước Strasbourg (IPC).
(Tài liệu tham khảo : https://thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Cong-uoc-Paris-bao-ho-so-huu-cong-nghiep-62697.aspx)
Công ước Bern
Thông thường, trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ khi nói đến công ước Bern là người ta muốn nói đến công ước của các điều luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Bởi vì luật bảo hộ quyền tác giả tác phẩm khai sinh vào ngày 09/09/1886 thông qua công ước Bern, hoàn thành tại PARIS vào ngày 4 tháng 5 năm 1896, được sửa đổi tại BERLIN vào ngày 13 tháng 11 năm 1908, hoàn thành tại BERNE vào ngày 20 tháng 3 năm 1914, được sửa đổi tại ROME vào ngày 2 tháng 6 năm 1928, tại BRUSSELS vào ngày 26 tháng 6 năm 1948, tại STOCKHOLM vào ngày 14 tháng 7 năm 1967, tại PARIS vào ngày 24 tháng 7 năm 1971 và lần sửa đổi gần đây nhất là ngày 28 tháng 9 năm 1979 tại PARIS.
(Tài liệu tham khảo : https://thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Cong-uoc-Berne-bao-ho-tac-pham-van-hoc-nghe-thuat-60106.aspx
Nghị định thư Madrid
Các điều luật bảo hộ Nhãn hiệu hàng hóa của Tây Ban Nha được áp dụng làm cơ sở cho đạo luật quốc tế về Nhãn hiệu. Lần đầu tiên thỏa ước về việc đăng ký Nhãn hiệu Quốc tế đã ra đời vào ngày 14/04/1891 tại Madrid, sửa đổi tại Brussel 14.12.1900, tại Washington 2.6.1911, tại La Hay 6.11.1925, tại London ngày 2.6.1934, tại Nice 15.6.1957 và tại Stockholm 14.7.1967, và thay đổi ngày 2.10.1979. Hiện nay luật bảo hộ liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đối với “Nhãn hiệu” được áp dụng thông qua Nghị định thư Madrid ngày 27/06/1989.
(Tài liệu tham khảo : https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-dinh-thu-lien-quan-den-thoa-uoc-Madrid-ve-dang-ky-quoc-te-nhan-hieu-hang-hoa-1989-61742.aspx )
Thỏa ước lahay 1986
Thỏa ước Lahay về đăng ký kiểu dáng công nghiệp ra đời lần đầu vào ngày 06/01/1925, sửa đổi luật và ấn hành văn bản vào năm 1960, bổ xung đạo luật năm 1967 tại Stockhom, hiệp định sửa đổi về đăng ký Nhãn hiệu quốc tế vào năm 1999. Các thủ tục hành chính hướng dẫn thi hành thỏa ước Lahay của Wipo áp dụng 01/07/2014, các đạo luật về bảo hộ Kiểu dáng công nghiệp ban hành vào năm 1960 và 1999 có hiệu lực vào ngày 01/01/2017.
(Tài liệu tham khảo nguồn : https://thukyluat.vn/vb/thoa-uoc-lahay-ve-dang-ky-quoc-te-kieu-dang-cong-nghiep-37e34.html)
Công ước Quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới
Liên minh quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (The International Union for the Protection of New Varieties of Plants viết tắt là UPOV) thông qua các công ước tại Paris lần đầu vào năm 1961, sửa đổi tại Giơ-ne-ver 10/11/ 1972, 13/10/1978 và 19/03/1991. Người ta gọi là Công ước quốc tế về giống cây trồng hay Công ước UPOV
(Tài liệu tham khảo : https://thuvienphapluat.vn/van-ban/So-huu-tri-tue/Cong-uoc-quoc-te-ve-bao-ho-giong-cay-trong-moi-62652.aspx )
Công ước Rome 1980
Công ước các đạo luật mà việc công bố không mang tính bắt buộc, áp dụng đối với các nghĩa vụ theo hợp đồng như : Di chúc thừa kế, các quyền tài sản phát sinh ngoài quan hệ hôn nhân, ngoài quan hệ gia đình, họ hàng thân thích…các nghĩa vụ phát sinh về hối phiếu, ngân phiếu….Công ước được ký kết ngày 19/06/1980 tại Rome và người ta gọi là Công ước Rome.
(Tài liệu tham khảo nguồn: : https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Cong-uoc-Rome-1980-Luat-ap-dung-doi-voi-cac-nghia-vu-theo-hop-dong-204538.aspx )
Hiệp ước WIPO 1996
Các đạo luật bảo hộ quyền tác giả về việc ghi âm, ghi hình, biểu diễn thông qua hiệp ước của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thông qua vào ngày 20/12/1996 với các tuyên bố đã có ở Công ước Bern 1971, cônhg ước Rome 1961.
(Tài liệu tham khảo nguồn : https://thukyluat.vn/vb/hiep-uoc-bieu-dien-ban-ghi-am-wppt-1996-cua-wipo-10516.html )
Phụ lục 1c_ hiệp định TRIPS
Tất cả các luật lệ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thường liên quan đến vấn đề thương mại giữa các Quốc gia với nhau nên nó cũng được được ghi nhận và thông qua đối với các hiệp định về thương mại mang tính Quốc tế ví dụ như Tổ chức thương mại thế giới WTO (World Trade Organization). Trong hiệp ước WTO dành riêng một phụ lục về các luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Phụ lục 1C - Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS).
(Tham khảo tài liệu nguồn : http://www.trungtamwto.vn/node/264 )
Bờ Đông 2018
- (22.11.2024)
- Nghiên Cứu và Thực Nghiệm (16.06.2018)
- Xã Hội Cộng Đồng (16.06.2018)
- Góc luật sư (16.06.2018)

